Skip to content
Tags

Truyền thông kiểu cũ so với truyền thông kiểu mới

Tháng Tư 20, 2012

Công nghệ mới đã dẫn đến những phong cách và kiểu mẫu truyền thông mới. Trong khi các hình thức truyền thông mới đang ngày càng thu hút được đông đảo người xem thì lại nổi lên cuộc tranh luận gay gắt về việc xem xét xem các phương thức truyền thông kiểu mới này liệu có tuân thủ đúng những chuẩn mực nghề nghiệp nhằm phân biệt truyền thông báo chí với các câu chuyện phiếm hay không.

David Vaina là cộng tác nghiên cứu làm việc cho Dự án Vì Thành tựu của Nghề báo (PEJ) – một tổ chức phi lợi nhuận ở Washington DC, nhằm đánh giá và nghiên cứu triển vọng của các hình thức truyền thông mới. PEJ tự đánh giá tổ chức của họ là không theo phe phái nào, không ủng hộ hệ tư tưởng nào và không thuộc đảng chính trị nào.Tổ chức này có quan hệ với Trung tâm Nghiên cứu Pew.

———-

Trong những năm 1970, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã được hỏi về điều mà ông cho là quan trọng nhất trong cuộc Cách mạng Tư sản Pháp năm 1789. Ông đã có một phút im lặng nhưng sau đó đã trả lời rằng “Còn quá sớm để nói”. Cũng có thể đánh giá như vậy đối với ảnh hưởng của cái đang được gọi là cuộc cách mạng truyền thông công dân đang được nhắc đến trong các bài diễn văn chính trị ở Hoa Kỳ.

Có một vài quan ngại về khả năng xảy ra sự phân tách có ảnh hưởng tiêu cực khi chúng ta chuyển từ kỷ nguyên báo chí truyền thống và thận trọng sang một kỷ nguyên truyền thông mới với những hình thức truyền thông phân cấp, trong đó, các công dân có xu hướng tìm đến các nguồn tin phi chuyên nghiệp để nắm bắt được thông tin về Nhà Trắng, Quốc hội, cuộc chiến Iraq và các vấn đề khác trong chính sách đối ngoại.

Những người chủ trương tán thành hình thức truyền thông mới này biện hộ rằng các nguồn tin bên ngoài vương quốc của các hình thức truyền thông đang có vị trí thống soái sẽ nhanh chóng làm phong phú thêm chứ không hủy hoại sự hiểu biết của quần chúng.

Có thể cả hai điều này đều đúng ở một mức độ nào đó. Việc duy trì được sự cân bằng này có lẽ phải mất hàng thập kỷ chứ không thể được thực hiện chỉ trong vài năm; và tác động của nó đối với nền dân chủ ở Hoa Kỳ sẽ không chỉ được biết đến khi cuộc cách tân được hoàn tất.

 

Một xu thế mới

Hầu hết sự lo lắng liên quan đến việc gia tăng của các phương tiện truyền thông công dân (ví dụ như các trang nhật ký mạng, bách khoa toàn thư mở, YouTube) tập trung xung quanh ý tưởng cho rằng thông tin trở nên thiếu chính xác do các cách thức truyền tin mới mẻ này không giống với các cách thức truyền thông truyền thống – được kiểm duyệt bởi các nhà biên tập – ví dụ như đối với báo chí hoặc trên mạng lưới truyền hình. Hãy cùng nhìn nhận lại vụ bê bối khiến cho ứng cử viên tổng thống thuộc Đảng Dân chủ trong cuộc tổng tuyển cử năm 2004 John Kerry thất bại chỉ vì giới truyền thông cho rằng (mặc dù không chứng minh được) ông đã có mối quan hệ bất chính với một nữ bác sĩ thực tập trẻ tuổi.

Matt Drudge – người được tạp chí New York mệnh danh là “nhà báo có ảnh hưởng nhất nước Mỹ” vào đầu năm đó đã đưa tin cho rằng Thượng Nghị sĩ John Kerry – một trong các ứng cử viên nặng ký nhất của cuộc bầu cử tổng thống – có thể có mối quan hệ bất chính với một phụ nữ ít tuổi hơn ông ta rất nhiều (Drudge không nêu tên người phụ nữ này) và rằng mối quan hệ này đe dọa kết thúc mọi hy vọng của ông ta trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với đương kim tổng thống George Bush vào mùa thu đó.

Theo dữ liệu từ Hitwise, không có bằng chứng nào cho thấy Drudge đã phỏng vấn bất kỳ người phụ nữ trẻ nào hoặc ai đó khác trong chiến dịch tranh cử của Kerry để khẳng định nhận định này trước khi công bố rộng rãi vào ngày 22 tháng 9 năm 2004 trên trang Drudge Report – một trang tin tức được ưa chuộng thứ 6 ở Hoa Kỳ vào tuần cuối cùng của tháng 9.

Cả Kerry và người phụ nữ này đều lên tiếng phủ nhận mối quan hệ và suy cho cùng thì cũng không có bằng chứng chính thức bằng văn bản nào khẳng định mối tình này. Các hãng báo chí lớn cũng từ chối đăng tin về vụ việc này vì họ cho rằng có rất ít bằng chứng để chứng minh sự việc đó.

Tất nhiên Kerry đã được đảng của mình bổ nhiệm làm ứng cử viên cho chiếc ghế tổng thống song liệu câu chuyện này có góp phần làm cho người dân Mỹ thay đổi quyết định bỏ phiếu cho ông trong cuộc tổng tuyển cử chính thức hay không? Theo David Frum – một cựu nhân viên chuyên viết diễn văn cho tổng thống Bush, người đã bình luận về vụ việc của Kerry trên trang web của National Review, đã phát biểu trên tạp chí New York rằng các bài viết trên Internet có thể xuyên tạc thực tế chỉ trong một thời gian cực ngắn: “Tôi đã đọc về vụ việc này trên báo, tôi đã nghe nói đến vụ việc đó, đã nói chuyện phiếm về điều đó, nhưng tôi không làm gì để công bố vụ việc một cách chính thức. Tôi đã đùa vui về vụ việc này trên Internet theo cách tôi vẫn thường làm vào các bữa ăn tối. Sau đó, tôi đã hiểu ra rằng Internet giống như một tờ báo in chứ không giống như một bữa ăn tối”.

Mặc dù những người theo trường phái ủng hộ truyền thông truyền thống đang rất lo lắng về những hình thức truyền thông không qua kiểm duyệt nhưng những người ủng hộ cho các hình thức truyền thông mới có thể cho rằng công việc của họ hoàn toàn khác với những gì mà người ta đã làm ở các báo New York Times và Wall Street Journal – hai thành lũy truyền thông lớn nhất ở Hoa Kỳ. Theo nghiên cứu từ dự án của tổ chức Pew về Internet và đời sống Mỹ, chỉ một phần ba (34%) những người viết nhật ký mạng coi các bài viết trên blog là một hình thức truyền thông, số còn lại – gần hai phần ba (65%) không coi là như vậy. Chỉ 56% nói rằng họ dành thời gian để cố gắng kiểm định lại tính xác thực của các kết luận mà họ đã đưa lên trang viết của mình, thậm chí là chỉ “thỉnh thoảng” hoặc “đôi khi” làm điều đó.

Truyền thông kiểu mới cũng bị phê phán do chúng đăng tải các bài viết khuyết danh. Cuộc điều tra trên đây đã chỉ ra rằng 55% những người viết nhật ký mạng viết bài trực tuyến dưới một bút danh khác với tên thật của họ. Mối lo ngại xuất hiện khi những người này có thể công bố các nguồn tin sai sự thật, khi mà rất khó có thể tìm ra dấu vết của họ nếu tên thật không được kết nối với nguồn tin đưa ra những lời đồn đại sai sự thật ấy.

Một vấn đề nữa có thể làm nảy sinh mối lo ngại không chỉ xuất hiện khi những người viết nhật ký mạng  tỏ ra thiếu trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin sai sự thật, sử dụng từ ngữ thô tục trong các bài viết và có rất nhiều trẻ em chưa đến tuổi trưởng thành cũng tham gia viết bài trên mạng. Nếu vậy, liệu những kẻ đam mê chính trị có thể khoan dung với tình cảnh này hay không, khiến cho đoàn cử tri càng phân tán hơn ?

 

Các trang nhật ký mạng có vai trò quan trọng như thế nào?

Việc xét xem liệu các nhà báo công dân có làm tổn thương nghiêm trọng tới đời sống chính trị Mỹ trong một vài năm qua hay không đã làm nổ ra nhiều cuộc tranh luận trong giới chính trị và giới truyền thông. Nhưng các dữ liệu kinh tế và dữ liệu điều tra đã chỉ ra rằng phạm vi ảnh hưởng của truyền thông công dân không lớn như nhiều người vẫn tưởng.

Trước tiên hãy nhìn vào các quảng cáo chính trị trực tuyến. Trong cuộc bầu cử năm 2006, ước tính khoảng 40 triệu đô-la đã được chi cho hoạt động quảng cáo trên Web, tăng lên 38% so với mức 29 triệu đô-la đã chi cho hoạt động này trong cuộc bầu cử năm 2004. Đây là một khoản tiền lớn song chỉ có 1% tổng số tiền được chi cho quảng cáo chính trị trên tất cả các hình thức truyền thông trong năm 2006; và các trang nhật ký mạng chỉ chiếm một phần nhỏ trong số 1% này.

Thứ hai là, mặc dù tỷ lệ những người cho rằng Internet là nguồn tin tức đầu tiên của họ đã tăng lên 26%, song vẫn còn đa số người dân Mỹ tìm kiếm thông tin từ truyền hình. Theo cuộc điều tra tháng 7 năm 2007 của Trung tâm nghiên cứu Pew về Dân chúng và Báo chí, hai phần ba dân số Mỹ nói rằng họ thích truyền hình hơn. Một lần nữa, nhật ký mạng và các hình thức báo công dân khác lại tỏ ra rằng chúng chỉ là một thành tố trong các nguồn tin trực tuyến, trong khi đa số người xem vẫn trung thành với các hãng tin do các công ty truyền thông giàu có nhất sở hữu và vận hành, ví dụ như CNN.com của hãng Time Warner, Yahoo News, AOL News và USAToday.com của hãng Gannett. Các bài viết trên những địa chỉ này về bản chất vẫn trung thành với phong cách truyền thống. Điều đó cho thấy đa số người dân Mỹ – khi tra cứu thông tin trực tuyến – vẫn có xu hướng hấp thụ các thông tin tuân thủ những nguyên tắc truyền thống về tính chính xác và sự công bằng.

Các dấu hiệu khác cũng cho thấy người dân Mỹ vẫn còn ngần ngại trước việc chối bỏ những hình thức truyền thông kiểu cũ, ngay cả khi họ đã xa lánh dần các hình thức truyền thông cũ, ví dụ như báo chí chẳng hạn. Một cuộc điều tra khác của Trung tâm nghiên cứu Pew về Dân chúng và Báo chí đã kết luận rằng 68% người Mỹ thích lấy tin tức từ các nguồn tin không bày tỏ quan điểm đặc biệt nào, trong khi đó, chỉ 23% muốn các nguồn tin khẳng định quan điểm của họ.

Xu hướng ủng hộ truyền thông bày tỏ quan điểm không chỉ giới hạn trong truyền thông trực tuyến. Trên truyền hình cáp, một số chương trình có sức hấp dẫn lớn nhất cũng là từ các nhân vật như Bill O’Reilley và Keith Olbermann, những người đã mạnh dạn đưa ra các giải pháp mang tính chính trị cao cho các vấn đề của đất nước. Vào tháng 10 năm 2007, Marvin Kitman, một nhà báo của tờ Nation – tạp chí tự do hàng đầu nước Mỹ – đã tuyên bố rằng “mục tiêu, cách thức và phong cách mà họ đã sử dụng tại tất cả các chương trình tin tức buổi tối đã tỏ ra quá cũ kỹ và lỗi thời”. Ông cũng bày tỏ chủ trương ủng hộ việc cho thuê phiên bản chương trình Olbermann. Sự thay đổi này quả thực là một bước khởi đầu căn bản từ cam kết có tính lịch sử với mạng lưới truyền hình tới một hình thức truyền thông trung lập hơn, như Richard Salant – chủ tịch hãng CBS News đã phát biểu vào những năm 1960 và 1970 như sau: “Các phóng viên của chúng ta không bày tỏ quan điểm riêng trong các câu chuyện của họ. Họ không đại diện cho quan điểm của bất kỳ ai”.

Tổng số các nguồn lực đầu tư vào việc thu thập tin tức lại là một vấn đề khác có ảnh hưởng tới sự thay đổi của bầu không khí truyền thông ở nước Mỹ. Vì có nhiều việc làm bị cắt giảm tại các tòa báo nên sẽ có ít phóng viên tin tức có khả năng theo dõi các sự kiện hơn so với thời điểm đầu thập kỷ này. Dữ liệu từ Hiệp hội các nhà biên tập báo chí Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng số người làm việc toàn thời gian tại các tòa báo đã giảm đi 3000 người so với đỉnh điểm của ngành công nghiệp báo chí là 56.400 người vào năm 2000. Đối với nhiều người, điều này dẫn đến mối lo ngại cho rằng vai trò của báo chí với tư cách là quan sát viên theo dõi hoạt động của chính phủ và các sự kiện lớn sẽ ngày càng suy yếu một cách nhanh chóng.

Có vẻ như ít nhất là một vài người viết nhật ký mạng đã nhìn ra chỗ trống dễ nhận thấy này và một số người đã cố tìm cách lấp đầy chỗ trống đó. Như David Glenn đã chỉ ra mới đây trong tờ Columbia Journalism Review, những bài viết từ blogger Joshua Micah Marshall và cộng sự của anh ta đã vạch trần các vụ bê bối chính trị lớn, trong đó có cả vụ việc Nhà Trắng đã sa thải các luật sư và vụ tranh chấp đất đai có liên quan tới Thượng Nghị sĩ Alaska Lisa Murkowski. Các trang nhật ký mạng khác, ví dụ như Huffington Post [www.huffingtonpost.com] và Pajamas Media [www.pajamasmedia.com], cũng có các bài viết riêng của mình; điều này chứng tỏ sự quy tụ hơn là sự phân tách giữa truyền thông kiểu cũ và truyền thông kiểu mới.

 

Kết luận

Cuộc tranh luận xung quanh ảnh hưởng của truyền thông công dân đối với nền dân chủ hiện vẫn chỉ dừng lại ở thể thức câu hỏi “Điều gì xảy ra nếu…”. Quan niệm cho rằng các trang nhật ký mạng đang phá hoại nền tảng dân sự của chúng ta là phi thực tế và có tính lý thuyết suông.

Nhưng rõ ràng là thế giới truyền thông đang thay đổi. Quyền lực đang chuyển từ người tạo ra tin tức – các nhà báo và những người viết nhật ký mạng – sang những người đọc tin tức. Các công dân có nhiều lựa chọn hơn và họ thường phân đoạn giữa hàng loạt các lựa chọn này. Ảnh hưởng thuần túy không phải là việc nổi lên của một nền tảng dân sự tốt hơn hay xấu đi mà là một vấn đề khác. Trước mắt, xu hướng thấy rõ nhất là: vì khách hàng được phân đoạn nhỏ hơn nên các nguồn tin sẽ có tính định hướng hơn xung quanh nhóm khách hàng mà nó phục vụ, hoặc xung quanh các chủ đề và các quan điểm cụ thể. Ít nhất hiện nay câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để chúng ta có thể tập hợp lại được tại một quảng trường trung tâm công cộng.

David Vaina

 

 

Nhóm đặc nhiệm vì tự do Internet toàn cầu

Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ phụ trách Dân chủ và các vấn đề toàn cầu Paula Dobriansky đã phát biểu vào tháng 12 năm 2006 rằng “một mạng Internet có thể được truy cập và được tự do sử dụng sẽ góp phần đẩy lùi tham nhũng, làm tăng tính minh bạch và khích lệ dân chúng tham gia vào các hoạt động chính trị. Nó cũng có thể đẩy mạnh giáo dục, y tế và phát triển kinh tế. Nói tóm lại, Internet là cách thức căn bản để trao quyền hành động cho dân chúng”.

Dobriansky đã đưa ra bài phát biểu này trong lần cập nhật thông tin mới nhất của Nhóm đặc nhiệm vì tự do Internet toàn cầu – một cơ chế báo cáo trong Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, được thành lập bởi Ngoại trưởng Condoleezza Rice vào tháng 2 năm ngoái. Bà Rice đã mô tả chiến lược ba điểm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong việc theo đuổi tự do truyền thông trực tuyến như sau:

* Theo dõi tự do Internet, trình bày kết quả theo dõi trong các báo cáo hàng năm của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình thực hiện nhàn quyền của các quốc gia. Nêu chi tiết các công cụ và cơ chế được các chính phủ sử dụng để hạn chế hoặc cấm đoán các hoạt động trực tuyến.

* Đối phó với các biện pháp hạn chế Internet bằng cách đẩy mạnh hơn nữa quyền tự do trên phạm vi thế giới và tại các tổ chức đa phương. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã có một bước tiến theo hướng này vào tháng 1 năm 2007 thông qua việc đăng cai hội nghị quốc tế đấu tranh chống lại các hành vi kiểm duyệt Internet trên phạm vi toàn cầu. Hơn 120 đại biểu của các tập đoàn, các hãng đầu tư có trách nhiệm xã hội, các tổ chức phi chính phủ, các đại sứ quán nước ngoài và các cơ quan quốc hội đã tham gia vào hội nghị này.

* Mở rộng khả năng truy cập Internet với các trợ giúp kỹ thuật và tài chính lớn hơn nhằm tăng khả năng của các công nghệ viễn thông quốc tế phức tạp và tinh vi tại các nước đang phát triển.

Hoa Kỳ tài trợ cho nhiều chương trình trợ giúp nhằm thúc đẩy mở rộng phạm vi và khả năng truy cập Internet, khích lệ phát triển công nghệ thông tin và viễn thông liên lạc tại các nước đang phát triển. Từ năm 2004, Chính phủ Hoa Kỳ đã đầu tư hơn 250 triệu đô-la Mỹ vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tại các nước đang phát triển.

Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_ej1207_viii.html

From → Truyền Thông

Để lại phản hồi

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: