Skip to content

Thánh Gioan XXIII: Nhật ký tâm hồn (14)

Tháng Năm 23, 2014

140508002
Thánh Gioan XXIII

 1935 – 1944: ĐẠI DIỆN TÒA THÁNH TẠI THỔ NHĨ KỲ VÀ HY LẠP

1935: TĨNH TÂM VỚI CÁC LINH MỤC

ISTANBUL 15-22/12/1935

Tĩnh tâm kỳ này, tôi tổ chức tại tòa Khâm sứ với các linh mục làm việc với tôi thuộc Nhà thờ Chính tòa thủ đô; giảng phòng là cha Bề trên dòng Tên, Cha P. Spigre.

Cố mà tĩnh tâm nhưng tôi không được thỏa mãn hoàn toàn. Lý do là ở tại tòa khâm sứ, dù có đóng cửa bàn giấy, để lo việc linh hồn, cũng không bằng đi đến một nơi khác. Rút kinh nghiệm cho năm sau. Vì vậy, tôi chỉ dốc lòng như các năm về trước thôi.

Từ tháng 11/1934 đến nay, bao nhiêu biến chuyển quanh tôi. Hiện giờ tôi đã được thuyên chuyển qua Thổ Nhĩ Kỳ. Nơi đây, bao nhiêu cơ hội, bao nhiêu ơn Chúa khiến tôi phải nên thánh!

Thuyên chuyển tôi về đây, Đức Thánh Cha muốn nhấn mạnh với Đức Hồng y Sincero, là người rất bỡ ngỡ vì tôi đã mười năm thinh lặng lẻ loi ở Bulgary mà không phàn ràn, không một lời muốn được thuyên chuyển. Tôi đã giữ lời dốc lòng, và vui mừng vì đã trung thành.

Tại đây, rất nhiều việc làm. Chúc tụng Chúa đã ban nhiều ơn an ủi trong phận vụ. Tôi cần phải giữ an tĩnh, trật tự nhiều hơn trong mọi công tác phải làm.

Tất cả giáo sĩ của tôi đã thắng cuộc thử thách về vấn đề mặc thường phục. Riêng tôi cần phải nêu gương, bằng sự đoan trang rạbg rỡ. Xin Thánh Tâm đốt lòng tôi và bảo vệ tôi thêm tinh thần của Ngài trong tôi. Ước gì được như vậy.

1936: TĨNH TÂM TẠI QUÊ BERGAMÔ

TU VIỆN NỮ TỬ CỦA THÁNH TÂM, 13-16/10

Tĩnh tâm vài hôm thật yên tịnh, trong ngôi nhà làm tập viện cho Tu hội của Đức Cha Benaglio và chân phúc Verzeri.

Nhờ ơn Chúa, tôi đã duyệt lại tâm hồn, và thấy mình còn xa sự hoàn thiện chức vụ đòi buộc, đối với ơn Chúa đang ban rất nhiều cho tôi! Tuy nhiên, lòng tôi vẫn nhiệt tâm ao ước sống hoàn hảo.

Tôi đang dùng quyền “Tam nhật thánh” của P. Bellecio để đọc khi tĩnh tâm.

Tôi cảm thấy quen sống kết hợp với Chúa qua “tư tưởng, lời nói, việc làm”. Tôi hằng nhớ hai lời nguyện “nước Cha trị đến, vâng ý Cha” và mọi sự việc đều hướng về đó. Tuy nhiên, còn lắm sơ suất trong phận vụ thường ngày và các việc đạo đức. Vậy, phải cải tiến tất cả.

Dù gặp nhiều khó khăn, tôi vẫn yêu thích phận vụ ở Thổ Nhĩ Kỳ. Cần có trật tự trong việc làm ban ngày, cả ban đêm nữa. Không đi ngủ trễ, hiện rất cần nghỉ đúng giờ. Sau cơm chiều, giờ giấc cần sắp xếp lại, nghe truyền thanh vừa mất giờ, vừa xáo trộn công việc.

Nhất định: 19 giờ lần chuỗi chung với cả nhà. Cơm chiều và ngơi nghỉ 45 phút đã quá đủ. Sau đó đọc Kinh Sách, nghe ít tin tức, một ít chương trình nhạc hay nếu có. Rồi, cha thư ký về phòng riêng, tôi sẽ tiếp tục ít việc cá nhân. Mười một giờ đêm, đi ngủ. Sáng thức dậy cần có ý tưởng và một chương trình cho trọn ngày. Không bỏ nguyện ngắm bao giờ, dù không đủ giờ, vì không thể làm hơn, nhưng phải sốt sắng, an tĩnh. Tránh các cuộc gặp gỡ trò chuyện quá lâu. Dễ thương với mọi người, để ý đến từng người vào thăm tôi, nhưng câu chuyện phải vắn tắt và rõ ràng.

Vì sức khỏe, tôi phải kiêng ăn. Tôi đã ăn ít, trưa cũng nên ăn ít luôn. Mỗi ngày cần đi dạo, dù có mất giờ, nhưng ai cũng khuyên tôi phải đi. Tôi sẽ đi, như là một dịp hãm mình.

Dường như tôi đã luôn luôn dứt khoát, không bao giờ lo tiến chức. Tôi bất xứng, nên không có gì gọi là bất mãn. Tôi chỉ khổ là vì nhận định tại chỗ của lại khác với nhận đinh tại Rôma: đó là cái cực nhất cho tôi. Tôi xin khiêm nhường chấp nhận, và rất sẵn sàng làm vừa lòng thượng cấp trực tiếp của tôi, tôi chỉ muốn thế, không muốn gì hơn.

Tôi sẽ luôn luôn nói sự thật, chỉ trừ cái sự thật mà người ta có lỗi đối với tôi, để sẵn sàng hy sinh và rước lấy phần không phải đổ ngược về mình, nếu cần. Có Chúa thấy tất cả và trả lại tất cả cho tôi. Tôi sẽ tiếp tục lấy ơn đền oán, và cố gắng hết sức tôi để theo sát Tin mừng hơn là dùng tiểu xảo chính trị.

Tôi đang chăm cần học tiếng Thổ. Tôi yêu họ, vì Chúa đã gửi tôi đến với họ, đó là phận sự. Chúng tôi liên lạc với nhau rất tốt đẹp, vì đường lối tôi theo là đường lối Công giáo và tông truyền. Tôi phải luôn theo lối đó trong đức tin, sự khôn ngoan, nhiệt thành, dù phải hy sinh chính mình.

Tất cả vì Chúa Giêsu, vì Hội thánh, vì các linh hồn, linh hồn của dân tộc Thổ và của anh em Chính Thống Giáo: “Lạy Chúa, xin cứu độ dân Ngài, trên gia nghiệp này, giáng muôn phúc cả, dẫn dắt nâng niu đến muôn đời” (Tv 27,9).

1937: TĨNH TÂM TẠI ISTANBUL

VỚI CÁC LINH MỤC TẠI TÒA KHÂM SỨ 12-18/12

1. Được gặp nhau lại trong tình gia đình thật là vui thú, để lo việc hệ trọng và lành thánh. Tuy nhiên, như năm 1935 tôi đã lưu ý là: ở lại tại chỗ, và các linh mục phải chạy tới chạy lui, sẽ hại cho kết quả của cuộc tĩnh tâm.

Tuy nhiên, không thể làm gì khác hơn. Nhà các linh mục Dòng Tên đang bị theo dõi mấy hôm nay, vào đó sẽ nguy hiểm. Nhẫn nại vậy.

2. Xét lại bộ máy đời nội tâm, những điểm luật đã tự dốc lòng, nhờ ơn Chúa tôi thấy các bộ phận đều đâu vào đó cả, nhưng bị bụi bám và có chút rỉ sét đó đây; cái hết chạy, cái chạy lỏng lẻo. Cần rửa, lau, đổi mới, cho nó chạy tốt.

Tôi đã xưng tội chung trọn năm với cha giảng phong Spigre, tôi rất bình yên. Mà Chúa có bằng lòng tôi không? Nghĩ đến mà phát sợ! chỉ phó thác và tin tưởng ở Chúa tôi mới an lòng.

3. Tháng Chạp năm qua, tại Athènes, tôi thấy sức khỏe bị đe dọa. Có chạy thuốc ngay và nay đã lành, nhưng đầu đã điểm bạc. Tôi muốn nghĩ mãi đến sự chết, đã không buồn mà còn nẩy sinh ý kiến mới, vui vẻ và mau lẹ và an tĩnh hơn trong những năm còn lại.

Điều làm cho tuổi trẻ tôi xúc động, là ĐGM Radini khả kính và khả ái đã chết đúng năm mươi tuổi: tuổi của tôi hiện giờ. Lúc đó tôi không mong mình tới được tuổi nầy. Thế mà bây giờ đã ngũ tuần, cám ơn Chúa. Phải chăng tôi có bổn phận nên thánh hơn!

4. Tôi cảm thấy an tâm với số phận, chỉ không hài lòng ở chỗ chưa nên thánh và làm gương như ý muốn và như phận vụ đòi buộc. Không chút lo gì tới chuyện vinh dự hay tiến chức, về điểm nầy tôi thấy hài lòng. Xin Chúa giúp con, vì chước cám dỗ dễ dàng nổi lên bất cứ lúc nào mà con thì yếu đuối. Hội Thánh đã xử với tôi rất tốt, đang khi tôi là “rốt hết mọi người” (x. Mc 9,35).

Tôi muốn thật sự là “người của Thánh Thể”. Cần nhắc lại nhiều điểm đã dốc lòng về vấn đề nầy từ xa xưa. Kinh Sách phải luôn đọc từ hôm trước, như vậy sáng sớm mới có thời giờ nguyện ngắm, rồi dâng lễ và đọc các giờ nhỏ. Ngoài ra, mỗi ngày giữ thói quen viếng Mình Thánh dù lâu dù mau, cũng phải tập trung và sốt sắng; mỗi tối thứ năm làm giờ thánh từ 10 đến 11 giờ, mà tôi đã bắt đầu, vì nhu cầu của tôi và của Giáo hội.

Hiện tình ở Istanbul chỉ dành cho tôi mỗi ngày hai tiếng yên ổn để làm việc, mà lại về đêm, tức từ 10 đến 12 giờ khuya, phải tập cho quen.

Nhưng 12 giờ khuya, sau tin giờ chót, tôi phải vào phòng, đọc kinh và nghỉ liền. Mỗi đêm ngủ 6 tiếng quá đủ. Dần dần coi có khá hơn không. Quan trọng là giữ trật tự và an tĩnh trong mọi việc, tuy mau lẹ nhưng không mất bình tĩnh.

7. Trong giờ cơm tối Cha Testa[1] và tôi cùng đọc vài đoạn sách của cha Faber nói về lòng ưu ái. Tôi rất thích vì đó là tất cả. Tôi bình tĩnh cố gắng để ở dịu hiền và hay giúp đỡ, không yếu hèn, nhưng kiên tâm và nhẫn nại với mọi người. Thi hành nhiệm vụ “chủ chăn với tình cha” đó là tất cả lý tưởng của đời giám mục của tôi. Dịu hiền, yêu người thật là ơn cao cả! “Có đức tính ấy rồi gì cũng có” (x. Kn 7,11).

1939: TĨNH TÂM TẠI ISTANBUL

TU VIỆN DÒNG TÊN 12-18/11

Tư tưởng và dốc lòng

1. Đây là kỳ tĩnh tâm lý tưởng: Kín, không liên lạc với ngoài đời, đúng kế hoạch. Tôi có mời đến đây các giám mục và linh mục triều thuộc những nghi lễ khác nhau. Tối lại, có vài vị về họ đạo để dâng lễ sáng. Bớt cái hay, nhưng chịu vậy. Ở một mình suốt tuần, tôi rất thích và chúc tụng Chúa.

2. Cha E. Châd, Bề trên dòng Tên, gợi ý suy gẫm theo lối Thánh Inhaxiô, rất chuẩn. Không những gợi ý, ngài nói luôn nửa tiếng. Sau đó, ai nấy gẫm tại phòng riêng. Tôi dùng bản văn của Thánh Inhaxiô theo bản dịch La ngữ được cha Roothan chú giải.

Tôi nhận thấy, đối với các linh mục và giám mục, chỉ nói qua đường lối Thánh Inhaxiô, rồi để ai nấy tùy nghi, sẽ không hành công; trước mặt Chúa mọi người là con trẻ, cần sự dẫn dắt của một người nói lên rõ ràng giáo thuyết đã được dọn kỹ. Các linh mục Bergamô khi giảng tĩnh tâm ở Chủng viện, đều biết tùy nghi, trung thành với tinh thần và phương pháp của Thánh Inhaxiô.

3. Vài hôm nữa tôi đúng 58 tuổi (25/11). Sau khi dự đám táng của ĐGM Radini chết hồi 50 tuổi, các năm thêm sau đó là ơn riêng, cám tạ Chúa. Tôi cảm thấy còn trẻ, còn khỏe, còn mạnh, nhưng không mong gì cả. Nếu Chúa muốn con xin sẵn sàng, dù là chết, nhất là cái chết, con “xin vâng ý Cha”.

Bao nhiêu người quanh con đang gào: “Còn lên, lên nữa”. Con không khờ khạo để nghe lời dua nịnh mà sa chước cám dỗ. Con hết sức cố gắng để cho rằng, đó là lời kẻ hèn phỉnh gạt. Đó là họ chế nhạo con, chỉ mỉm cười rồi bỏ qua. Hèn mọn, và không ra gì, mà con đã mang áo tím, đã nhận trách vụ quá tài năng, con đã xấu hổ lắm rồi. Xin cho con khỏi cái mối lo lắng thăng chức, thuyên chuyển đến nhiệm sở cao hơn. Xin Chúa ban ơn và gìn giữ con khỏi mọi lo âu về điểm nầy.

4. Năm nay, nhiều cơn thử thách, nhiều kẻ thân yêu đã chết: mẹ dịu hiền và yêu quí của tôi; ĐGM Morlani, người ân nhân số một của tôi, Cha Forno người cộng sự viên đắc lực; Cha Valsecchi, cha sở ngày xưa trước khi tôi đi học Rôma 1895-1900; tất cả đều khuất bóng. Cả ĐGM Spolverini, cha Bề trên chủng viện xưa. Đối với tôi, đời đã đổi mặt, “bộ mặt thế gian này đang biến đi” (1Cr 7,31). Tôi bắt đầu làm quen với thế giới bên kia, mai đây, có lẽ rất gần, tôi cũng về đó. Ôi những người thân yêu quá cố mà lòng tôi hằng trìu mến. Xin cầu cho tôi.

5. Tôi đã nhờ Cha Châd giải tội, tôi rất hài lòng đã xưng tội trong năm. Tôi đã chuẩn bị bí tích giải tội bằng cách dâng lễ, dự thêm một lễ, và quì gối lâu trong tinh thần sám hối. “Tôi xấu hổ vì việc đã làm, và thẹn thuồng ra mắt Chúa: Xin đừng nỡ lên án con”.

Cha giải tội bảo: Chúa hài lòng vì sự con phục vụ Chúa. Con mong rằng Chúa hài lòng thật. Phần con, con chỉ bằng lòng một phần thôi. Từ lâu tôi đã chọn hướng đi; từ những chi tiết cho đời sống và sự sinh hoạt, qua phận vụ, mọi sự đều rõ ràng là tôi phải “hy sinh, hy sinh vô điều kiện cho các linh hồn” (x. 2Cr 12,15); tôi không hề ngủ khi lo phận vụ giám mục, tuy nhiên trong khi chu toàn cũng có lắm khuyết điểm. Giữa cái đã làm với cái phải làm và muốn làm, còn khoảng cách rất xa, không biết bao giờ đuổi kịp. Phần nào cũng tại lỗi tôi. Thư tôi viết còn quá dài, sợ vì quá khô khan hay thiếu thành tâm khi viết quá vắn tắt, mong rằng có nói dài dòng hơn sẽ phục vụ quyền lợi Hội thánh nhiều hơn. Vậy cần giữ trung dung, nếu không an tâm, thì đành an lòng chịu vậy.

6. Ngày lễ các linh hồn, Cha J. Testa đã vĩnh viễn lìa tôi để “đi con đường của ngài” (x. Tv 18,6). Thật là người con mà hai năm qua tôi rất yêu ngài trong Chúa. “Xin vâng”.

Thay Cha Testa một người trẻ, đức ông Righi. Bề trên gửi sang để tôi giúp người biết cách phục vụ Tòa thánh. Có vẻ ngài rất tốt và vâng lời: tôi sẽ cố gắng tùy sức. Đồng thời để chia bớt trách nhiệm, tôi sẽ giao ngài một phần công tác. Đó là cách tranh thủ để việc đã làm theo kịp việc sẽ phải làm. “Xin Chúa đến giúp con”.

7. Về sách đọc giờ cơm, xong thông điệp Summi Pontificatus[2], tôi đề nghị đọc Nhật ký của ĐGM Dupanloup mà tôi rất quen, tôi gặp quyển nầy trong thư viện tòa Khâm sứ. Nhật ký nầy gây cảm tưởng tốt và nêu gương. Điều tôi đặc biệt chú ý, là vị giám mục rất hoạt động nầy lại đặt rất nặng các việc đạo đức và đời sống bên trong: thánh lễ, nhật tụng, nguyện ngắm, mến Thánh Thể, mến Đức Maria mà ngài kêu xin là: “Đức Bà phù hộ các giáo hữu, phù hộ các giám mục” v.v… Khi bạn đến thăm ở lại với ngài, ngài cho là sự việc an ủi khích lệ; cũng thế, đó là nguồn an ủi khích lệ đối với tôi. Kinh Sách phải đọc xong chiều hôm trước, Mgr Righi thích chúng tôi đọc chung, tôi cũng thích vậy và khởi sự từ lâu. Kinh Sách xong, thời giờ sau đó rất quí báu để dọn bài gẫm hôm sau, và các việc còn lại cũng trôi chảy nhẹ nhàng. Tôi cũng đặt nặng vấn đề lần chuỗi chung với gia đình mà tôi đã bắt đầu. ĐGM Radini, và Đức hồng y Ferrari ở Milan cũng có thói quen ấy.

8. Xin đặc biệt dốc lòng học tiếng Thổ, như là việc hãm mình. Đã 5 năm qua ở thủ đô mà biết ít quá, thật là xấu hổ, dấu chỉ tôi không hiểu rõ sứ mệnh, không có lý do chính đáng để chạy tội.

Tôi sẽ học lại cách quyết liệt, hãm mình để học đối với tôi là nguồn vui thú. Tôi thương người Thổ, tôi quí đức tính hồn nhiên của họ, nhờ đó mà họ sẽ tân tiến. Nếu học không tiến bộ nhiều? Không quan trọng chi. Phận vụ của tôi, là làm rạng danh Tòa thánh, nêu gương sáng, đủ rồi. Giữ được nội điểm nầy, kể là tĩnh tâm đã kết quả tốt.

9. Còn gì đặc biệt để dốc lòng nữa không? Không thấy, vì tôi đã chịu đóng đinh vào thập tự của chức giám mục và Khâm sứ Tòa thánh. Cần giữ bình tĩnh và sốt sắng trong sự bình tĩnh; không nên ăn ở cách nào khác trái với đức khiêm nhường và hiền lành, dù lắm khi tôi bị cám dỗ, bị thúc đẩy làm ngược lại. Cần dịu dàng mà không hèn; nói ít, ít nói về chính trị; luôn luôn nghĩ đến sự chết.

10. Nơi tu viện dòng Tên nầy, qua cửa sổ, đêm nào tôi cũng thấy vô số ghe thuyền tấp nập ở eo biển Bosphore: cứ từng chục, từng trăm từ “Sừng vàng” họ đổ ra; tựu tập lại nơi đã định, nổi đèn lên, cái sáng, cái mờ, muôn màu sặc sỡ rất đẹp mắt. Tôi có cảm giác như dân biển mừng lễ Bairam[3]. Nhưng không phải, đây là mùa cá thu, nhiều cá to từ Biển Đen đổ xuống. Họ thắp đèn, và suốt đêm nghe họ reo mừng.

Cảnh tượng nầy làm tôi cảm động. Có một đêm, vào khoảng một giờ khuya, mưa như trút, thế mà dân chài bất khuất, cứ tiếp tục công việc nặng nhọc của mình.

Nhục nhã thay cho linh mục chúng tôi “người lưới cá linh hồn”, khi đứng trước cảnh nầy! Chúa đã đem so, và khi so như vậy dĩ nhiên là Ngài nhắc đến sự lao nhọc, và lòng nhiệt thành làm tông đồ mà linh mục phải làm! Nước Chúa Kitô ở Thổ Nhĩ Kỳ nầy còn chưa có gì. Chỉ còn ít họ đạo xa xưa, với vài nơi mới nhen nhúm. Nhưng còn bao nhiêu linh hồn lạc lõng trong biển cả Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Chính Thống Giáo; hãy noi gương ngư phủ eo biển Bosphore, phải làm việc ngày đêm, đốt đuốc sáng rực lên, mỗi người trong chiếc thuyền của mình, theo lệnh Bề trên mà làm việc, đó là phận sự trọng đại và lành thánh.

11. Phận vụ ở Thổ thật khó khăn, nhưng chạy đều và tôi được an ủi nhiều. Tôi thấy có tình bác ái của Chúa Kitô, có sự hợp nhất giữa hàng giáo sĩ và tôi, tuy tôi bất xứng. Tình trạng chính trị không cho phép tôi hoạt động mạnh, và xem chừng như công lao của tôi là đã không làm cho tình trạng nầy căng thẳng thêm.

Phận vụ tại Hy lạp càng nặng nề gấp bội! Cũng vì khó mà tôi lại rất thích và dốc lòng sẽ say sưa theo đuổi, cố dẹp tính e ngại tự nhiên. Đây là lệnh, phải tuân. Nếu Bề trên có giao cho vị khác, cũng tốt, nhưng bao lâu còn giữ nhiệm sở nầy, tôi cố tận lực. “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau khấp khởi mừng” (Tv 125,6). Ai gặt cũng được, không hề gì.

12. Năm nay, nghỉ phép rất ít và còn phải lo lắng sớm trở lại nhiệm sở. Bù lại, tôi đã được Đức Thánh Cha, Thánh Bộ Đông phương và Quốc vụ khanh tiếp đón cách ưu ái và khích lệ. Cảm ơn Chúa. Thật tôi không đáng công. Tuy nhiên tôi không làm việc để đời ca tụng: “Chúa cho”, và ngày nào đó, rất có thể, “Chúa lấy lại”, tôi vẫn chúc tụng Chúa.

13. Để liên tục được thúc đẩy sốt sắng mến Thánh Thể hơn, và để kỷ niệm kỳ tĩnh tâm nầy, tôi dốc lòng sẽ đọc các kinh dọn mình dâng lễ (riêng) như đã ghi trong sách lễ. Người giúp lễ, sẽ phải chờ, nhưng kinh phải đọc cho xong. Trừ khi có đông kẻ dự, sợ họ khó chịu vì phải chờ lâu, khi đó tôi mới có thể không đọc. Thánh Phanxicô Salêsiô là thầy của tôi trong cách xử trí tế nhị và bác ái.

1940: TĨNH TÂM TẠI EO BIỂN BOSPHORE

TU VIỆN ĐỨC BÀ SION TERAPIA, 25/11 – 1/22

1. Chiến cuộc không cho phép tôi tĩnh tâm tại tu viện dòng Tên ở Aydarpasa.

Tôi đến nhà nầy như vị tuyên úy các nữ tu già, thôi làm việc, họ từ các dòng ở Iasi và Galatz (Rumani) di cư sang đây. Các linh mục dòng Thánh Linh sẽ đến đây tĩnh tâm sau tôi. Thật vắng vẻ, yên lành. Cám ơn và chúc tụng Chúa.

2. Tôi chọn lúc nầy, vì là ngày tôi đúng 60 tuổi. Lục tuần ai cũng cho là khoảng đời già. Lẽ ra, già như thế tôi đã phải là bậc thầy về đời sống nội tâm, nhưng thực tế; tôi hãy còn kém xa! Thánh hóa những ngày đầu của tuổi 60 bằng lời cầu nguyện, hãm mình đền tội, suy gẫm, cũng vớt được phần nào; chắc Chúa vui lòng, xin Chúa thương xót!

3. Kỳ tĩnh tâm nầy, tôi không theo thông lệ, nhưng đề tài nguyện ngắm là kinh Miserere[4], mỗi ngày suy 4 câu. Bao giờ cũng phải có người dẫn, cho nên tôi dùng quyển giải thích rất phong phú của Cha P. Segneri. Ngài lý luận nhiều, có vẻ gượng ép, mất tự nhiên, dư thừa đối với nhu cầu của tôi. Đối với tôi, lúc nầy, nó là kho tàng tư tưởng và thực hành rất mới. Vừa đọc, tôi vừa ghi – bằng máy chữ – những gì hay và cụ thể đối với tôi, để xem lại mà xây dựng mình.

4. Tập trung tư tưởng để làm gì? Không có gì lạ và hấp dẫn đâu. Chỉ để bổ sung các nguyên tắc và thái độ đối với Chúa, đối với đời sống hèn mọn của tôi, đối với phận vụ lành thánh để phục vụ Giáo hội. Tuy cố ý quan trọng hóa cái tuổi 60, có lẽ sẽ rất ngắn, qua rất mau, tôi thấy có một cái gì quan trọng, và phải chín chắn trong các việc liên quan trực tiếp đến tôi và những gì xung quanh; cần dứt khoát hẳn với ý nghĩ về tương lai của mình, dứt khoát với mọi thụ tạo; từ từ đi dần tới sự vứt bỏ sự vật, người, nơi và công cụ nào đánh thức ý nghĩ về tư lợi; tôi khám phá ra nơi mình tính muốn thông cảm, tha thứ, và bình tĩnh, sáng suốt để phán đoán. Tôi canh chừng để lời nói và hành vi mãi mãi đơn sơ, không kiểu cách; tuy nhiên phải luôn luôn nghiêm trang và đặc biệt dễ yêu của một giám mục đã có tuổi, biết phát tỏa quanh mình sự khôn ngoan, có tư cách, và dịu dàng dễ mến.

5. Tôi suy lại phận vụ giám mục. Tôi suy nhiều ở lời khuyến cáo “hãy cố giữ nơi mình sự khiêm nhường, nhẫn nại và dạy kẻ khác cũng giữ như vậy”. Đôi khi gai đâm tôi, và đâm rất đau. Tôi cần có những quyết định nghiêm chỉnh, đúng ý nghĩa của nó. Tôi sẽ lể gai ra. Tôi còn đáng bị nhiều thứ gai đâm mình! Sau đó, còn sự thật, bác ái và lòng thương xót? Đâu là Thánh Thần Chúa trong cách tôi đối xử với các linh hồn, với chính tâm hồn tôi?

6. Năm nay Chúa Quan phòng trao cho tôi số tiền quan trọng thuộc riêng cá nhân tôi. Tôi dùng một phần giúp người nghèo, một phần cho nhu cầu riêng và giúp đỡ người nhà, phần lớn để tu bổ tòa Khâm sứ, sửa phòng ở cho các linh mục thuộc quyền ở nhà Thánh Linh. Người đời kể cả hàng giáo sĩ, theo sự khôn ngoan trần gian, họ bảo là tôi có tinh thần sống nghèo.

Chi phí xong số tiền trên, bây giờ tôi nghèo thật. Chúc tụng Chúa, nhờ ơn Chúa mà con sống xứng đáng. Xin phó dâng tương lai con cho lòng nhân từ Chúa. “Hãy cho, rồi người cho lại” (x. Lc 6,38).

7. Lục tuần mà học tiếng Thổ, tôi vẫn không được lùi bước, nhưng phải nhiều ý chí và nghị lực. Nội việc để nên gương, cũng đáng để phải cố gắng.

NHẬT KÝ – THỨ HAI 25/11

Hôm nay, Đức Piô XII kêu gọi thế giới hợp với Ngài để khẩn cầu và hát lên kinh Cầu các thánh và kinh Miserere. Từ Đông sang Tây, mọi người hiệp ý với Ngài.

Tôi đang tĩnh tâm lẻ loi tại đây. Đức Thánh Cha cũng đang tĩnh tâm ở Rôma – và bắt đầu thánh hóa ngày sinh nhật 60 tuổi của tôi (25/11/1881 – 25/11/1940); tôi thấy không cách nào hay hơn là dùng kinh Miserere, mỗi ngày gẫm 4 câu.

Điều tôi suy gẫm nhất định kém xa quyển Dẫn giải kinh này của Cha Segneri. Tôi xin dùng sách nầy và áp dụng cách tự do cho mình.

Để thật sự hiểu rõ Thánh vịnh nầy, tôi phải đóng vai trò thực thụ của Đavít đau đớn thống hối, một vị vua đã sa ngã, và đã chỗi dậy.

THỨ BA 26/11 – NGÀY ĐẦU

Câu 1: “Lạy Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con”

  1.  Các quốc gia đang kêu van: Từ các nước Âu châu và xa hơn nữa, tiếng kêu cứu đến tai tôi. Đệ nhị thế chiến đang tàn phá rùng rợn trên không, dưới đất, ngoài biển, đó là hậu quả của con người bất tuân, vi phạm luật thánh Chúa đã đặt ra cho xã hội loài người. Có người đã và đang bảo rằng Thiên Chúa đặc biệt giữ gìn quốc gia của họ vì người của họ tốt và họ đã làm điều phải. Họ quên rằng, phần nào Chúa đã tạo ra các quốc gia và để cho họ tự lựa chọn thể chế. Chúa đã ra Hiến chương tức Tin mừng, làm đạo luật cho đời sống xã hội. Chúa chỉ đặc biệt bảo đảm cho một quốc gia là Hội thánh với tư cách là Hội thánh. Ma dù Chúa có gìn giữ cho Hội thánh khỏi đổ vỡ, Ngài vẫn để cho phải trải qua nhiều cuộc bách hại khó khăn.

Luật sống cho các dân các nước định rõ đâu là công lý để tạo thăng bằng cho thế giới, đặt giới hạn cho việc dùng tài sản, hưởng vui thú và sử dụng quyền lực trần gian. Luật Chúa càng bị vi phạm, là hậu quả đương nhiên sẽ kinh tởm khó tả. Không quốc gia nào chạy thoát. Rồi sẽ đến lượt. Chiến tranh là một trong các hậu quả kinh hoàng. Người ta muốn gây chiến, các quốc gia, các đại diện sinh sự với nhau, không phải Chúa. Động đất, lụt, đói, dịch do những định luật mù lòa của thiên nhiên, mù lòa vì vật chất tự nhiên vốn vô tri, vô giác. Còn chiến tranh là do con người gây hấn, bất chấp luật Chúa, hậu quả thảm khốc hơn. Chính “vua quan thế gian” (Ga 12,31) khai hỏa; không liên quan gì đến Chúa Kitô là “vua hòa bình” (x. 1Mcb 10,47).

Mà chiến tranh đã nổ bùng chỉ còn Miserere, xin Chúa thương xót, xin Chúa đứng về phía công lý, xin lấy uy quyền Chúa và ơn phong phú giúp cho các cường quốc nhận ra cái lẽ phải và có tư tưởng hòa bình.

  1.  Hồn tôi than van. Trong lòng mỗi người, và ngay trong tôi cũng họa lại, tuy bé hơn, cái hình ảnh hỗn loạn khổng lồ của thế giới. Nhờ ơn Chúa, sự gian ác không cấu xé con. Bao nhiêu tội điển hình như: của Đavít, Phêrô, Augustinô. Nếu Chúa không giúp, tôi còn tệ hơn các vị ấy! Tuy chỉ có lỗi nhẹ các thánh vẫn áp dụng cho mình hình phạt rất nặng. Giữa thế kỷ văn minh, nhiều vị vẫn sống hãm mình liên lỉ, dâng cuộc sống làm hiến tế đền tội mình và tội nhân loại; phần tôi, tuổi nào tôi cũng có lỗi theo tuổi đó, tôi cần than khóc tội tôi luôn “Thôi, đừng khen mà tôi phát sợ, vì tự biết mình, tuy chưa rõ lắm, đã làm cho tôi xấu hổ” (A. Mangoni). Đức hồng y Federico đã lặp lại một lời tương tự, vừa hùng hồn vừa cảm động.

Đừng lấy cớ kẻ khác cũng yếu đuối để tự tha thứ. Trái lại Miserere sẽ là câu kinh sám hối tôi cần phải năng dùng. Nghĩ mình là linh mục và giám mục, tức phải đặc biệt lo cho tội nhân trở lại, khiến tôi càng “lo buồn, đau đớn và khóc lóc” như Thánh Inhaxicô đã dạy. Đánh tội, nằm dưới đất không hoặc trên đống tro sẽ là câu kinh Miserere liên tục của hồn linh mục, ưu tư vì muốn trở thành của hiến tế chuộc tội mình và tội dân gian.

  1.  Lòng nhân hậu. Vì tội dân gian quá nặng, cần lòng đại từ bi mới xóa hết được. Đại từ bi xứng với sự cao cả của Chúa.  “Bởi vì Chúa cao cả thế nào thì cũng lân tuất như vậy” (Hc 2,18). Đủ lý mà cho rằng sự cùng khổ của ta là ngai Chúa từ bi. Từ bi là đặc tính đẹp nhất để ta gọi Chúa. Nước mắt chan hòa nhưng lòng tin tưởng “ai thương xót, thì chẳng quan tâm đến việc xét xử” (Gc 2,13). Xem như quá, nhưng sự Chúa chuộc tội quy về mầu nhiệm từ bi, Chúa đã sắp xếp để cứu rỗi ta đó là do sự từ bi Chúa “Xin thương xót con theo lòng đại từ bi của Chúa”.

Câu 2: “Mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm”

Thiên Chúa có tiếng là “độ lượng và dịu dàng” (x. Tv 110,4; 111,4). Lòng từ bi Chúa không chỉ là tác động thầm kín, mà được phô bày với bao ân lành “rộng lượng hải hà”.

Chỉ nguyên các ơn Chúa xuống cho tâm hồn tội lỗi để tha thứ cho họ đủ làm cho ta kinh ngạc: 1) dịu dàng quên sự xúc phạm của ta; 2) ban lại dồi dào ơn nghĩa thánh để coi ta như bạn, như con; 3) trả lại các đặc ân, những nhân đức, tâm tư đi theo với ơn nghĩa; 4) trả lại quyền thừa tự nước trời; 5) trả lại các công đức như trước khi chưa phạm tội; 6) thêm cho số ơn mới cộng với số ơn đã có trước; 7) khi thêm ân phúc cũng thêm khả năng, như mặt trời càng lên cao ánh sáng càng chói chan; như nguồn càng nhiều nước thì chảy ra thành nhiều dòng suối.

Câu 3: “Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.”

Bí tích giải tội.

Câu nầy có ba động từ: “xóa bỏ, rửa sạch, thanh tẩy”. Ba bước tiến: trước nhất là xóa bỏ vết nhơ; rửa nó cho sạch nghĩa là không còn một chút bợn nhơ; cuối cùng làm cho nên tinh tuyền, nghĩa là biết ghét sợ tội, có những hành động ngược với tội tức là biết khiêm nhường, hiền hậu, hãm mình v.v… ngược lại tội mình phạm trước. Có ba động tác: động tác thứ nhất do một mình Chúa là “xóa bỏ”; hai động tác sau do sự cộng tác của linh hồn với Chúa để: rửa sạch và tinh luyện. Phận sự của chúng ta là phải hối hận, rồi nhờ ơn Chúa để rửa sạch và nên tinh tuyền. Ta tin rằng động tác thứ nhất của Chúa mau mắn cấp thời… Phải tin không nghi ngờ như kinh Tin Kính dạy: “Tôi tin phép tha tội”. Hai động tác sau do ta hợp tác, cần thời gian, nỗ lực và tiến bộ. Do đó ta xin: “Xin Chúa rửa con cho sạch và giúp con nên tinh tuyền”.

Máu Chúa qua phép giải tội sẽ giúp rửa sạch và tinh luyện ta. Nhờ nhiều lần chịu phép giải tội, Máu Chúa hành động dần dần, tăng mãi. Do đó cần chịu phép giải tội. “Ta tha tội cho con”; cần năng xưng tội, đối với linh mục và giám mục cũng thế, để sống nội tâm dồi dào. Dễ làm chiếu lệ khi xưng tội mỗi tuần. Cần sốt sắng và áp dụng cho mỗi lần xưng tội lời sau đây của Thánh Phaolô: “Do Chúa Cha, Đức Kitô đã trở nên sự khôn ngoan, công chính, thánh hóa và cứu chuộc đối với ta” (x. 1Cr 1,30).

Khi xưng tội, xin Giêsu nên sự “khôn ngoan” để tôi được an tĩnh, chăm chỉ cẩn thận xét mình các tội, thấy cái hại của nó mà đau buồn. – Xin nên sự “công chính”, để con xưng tội cách chân thành thống hối. – Xin nên sự “thánh hóa” để cúi đầu lãnh phép giải tội con được thêm ơn thánh. Xin nên sự “cứu độ” để con làm việc đền tội, tuy nhẹ, nhưng giá trị vô cùng nhờ hợp với giá máu Chúa qua bí tích giải tội rửa sạch và tinh luyện con.

“Xin rửa con thêm sạch tội” đó là tiêu chuẩn để biết con tiến đức.

Câu 4: “Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.”

Người xưa bảo “biết mình” đó là căn bản để sống tốt và xứng đáng. Nhờ nó mà sống khiêm nhường, nhân đức số một của ai làm lớn. Giáo dân, giáo sĩ xưng mình “có tội”, đó không phải đầu hàng, mà là tin tưởng phó thác nơi Chúa cứu chuộc, thêm sự tôn kính các tâm hồn, tránh sự kiêu căng. Phải giữ một phòng riêng “ăn năn tội” trong tâm hồn, để linh hồn vào đó yên tĩnh mà “biết mình”, mà quyết định, thêm nhiệt thành yêu các linh hồn, không sá gì kết quả bên ngoài khi hoạt động tông đồ.

Samuel nói thẳng vào mặt, để thức tỉnh Đavít: “Con người đó, chính là ngài” (2Sm 12,7). Đavít hằng nhớ tội mình: “Tội luôn tố cáo tôi”. Cha Segneri nói đúng: nhớ chi tiết khi phạm tội đã vô ích còn nguy nữa, chỉ nhớ tổng quát tội đã phạm, để thấy rõ sự yếu hèn, làm bài học, biết sợ.

Trong Phụng vụ Tây cũng như Đông phương, hay nhắc đến tội. “Tội luôn luôn xuất hiện” trước mắt Chúa ở vườn Cây Dầu, trước mắt Phêrô trên ngôi Giáo hoàng, trước mắt Augustinô là giám mục tiến sĩ.

“Tội xuất hiện trước mặt”, đừng để sau lưng. Như thế mới có thể đứng dậy, tránh vết xe cũ, không tái phạm.

THỨ TƯ 27/11 – NGÀY THỨ HAI

Câu 5: “Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Như vậy, Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử.”.

Tội xúc phạm đến Chúa, đó là lý do làm cho nó ra nặng nề. Vợ bị cưỡng hiếp, chồng bị giết cũng chưa so được với Thiên Chúa bị xúc phạm. Đavít đã hiểu thế, ta cũng phải hiểu vậy. Đời không chịu hiểu, họ xúc phạm đến Chúa mà không hối tiếc bằng khi họ thua lỗ, rủi ro.

Hơn nữa, lỗi với anh em, với chính mình là trực tiếp xúc phạm đến Chúa, lỗi luật của Ngài. Nặng nề, vì phạm trước mắt, thành thật với mọi người, thành thật với chính mình. Dù thiên hạ có chế nhạo người lành là trẻ con khờ khạo. Thánh Grégôriô diễn tả rất hay về điểm này.

Câu 6: “Ngài thấy cho: lúc chào đời con đã vương lầm lỗi, đã mang tội khi mẹ mới hoài thai.”

Đavít không chạy tội, nhưng có ý nói, như Thánh Phaolô sau nầy, về ảnh hưởng của tội nguyên tổ (x. Rm 7,23). Các nhà thần học đề cập đến luật tinh thần ngược với luật xác thịt. Tuy nhiên đó không phải là lý do để tự bào chữa; vì tuy thế tục bên ngoài có quyến rũ, nhưng ơn Chúa bên trong ta có sẵn, có thừa, và mạnh hơn chước cám dỗ. Cha Cabarelli nói: quỷ không ai xa lạ, chính là chúng ta; chính mình phải chịu trách nhiệm. Người thiếu phụ đẹp ở rất xa, sự đam mê ở ngay trong con người Đavít. Ông không thấy chính cái làm ông ngã.

Biết sự yếu đuối của con người, không phải để tự bào chữa, nhưng để nâng đỡ, an ủi kẻ khác. Vì linh mục là lương y của các linh hồn.

Ta có trách nhiệm dùng ơn Chúa để bảo vệ bản tính con người. Trong bản tính đã núp sẵn các đam mê, tham vọng, tham ăn, tham tiền, tham sắc dục, biếng nhác… khác nào dã thú: cọp, gấu, sói, beo nuôi trong chuồng thú. Đóng cửa chuồng, chúng không hại ta được, kể như chúng không có. Ơn Chúa đã nhốt và trị chúng. Nếu thiếu ơn Chúa, tật xấu như dã thú sổng chuồng. “Chúa đã bảo vệ ta bằng bức tường thành ơn thánh” (x. Is 26,1); tường sập đi, tội nghiệp cho giáo dân, giáo sĩ!

“Mẹ đã hoài thai tôi trong tội lỗi”. Mẹ đây chính là Evà.

Câu 7: “Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật, dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan.”.

Đavít đã bảo Chúa yêu sự thật, Chúa là nguồn gốc của chân lý. Chúa Giêsu đã phán: “Ta là sự thật” (Ga 14,6). Nếu không phải là Thiên Chúa, ai nói thế là người điên. Tổng trấn Rôma đã hốt hoảng khi nghe Chúa Giêsu nói hai tiếng sự thật, ông hỏi vặn lại: “Sự thật là gì?”, rồi lại bỏ ra ngoài.

Cha Segneri định nghĩa: Sự thật là nhân đức hướng thượng có mặt trong những việc đứng đắn, và sự thật mang nhiều tên khác nhau tùy nó. Nơi học đường, sự thật có tên là khoa học; trong phong tục nó là sự trong trắng; trong câu chuyện, nó là sự chân thành; trong việc làm, nó là sự đúng đắn; khi thương thuyết, nó là sự ngay chính; khi bàn hỏi, nó là sự tự do; khi ra tay vào việc, nó là sự trung thành; nơi tòa án, nó là công lý. Đấy chính là sự thật của Thiên Chúa “vĩnh viễn là sự thật” (x. 1Ga 2,17).

Yêu sự thật, là điều mà Hội Thánh dạy tôi ngày ban chức giám mục cho tôi: “Con hãy yêu khiêm nhường và sự thật: đừng vì sự dua nịnh hay nhát sợ mà xa sự thật. Đừng lấy sáng làm tối, đừng nhận u tối là ánh sáng. Đừng quấy nói phải, phải cho là quấy. Phải mang ơn đối với người khôn như đối với kẻ dại, vì cả hai đều giúp ta tiến đức”.

Chúa cho tôi đặc ân luôn nói sự thật, bất cứ ở đâu, bất cứ với ai, nhẹ nhàng lịch thiệp, nhưng bình tĩnh và không sợ ai. Khi còn con nít, đôi lần có nói dối, mà cho tới ngày nay tôi còn gớm ghét sự dối trá lừa gạt. Giờ đã cao niên, tôi muốn mãi mãi là người nói sự thật. Xin Chúa giúp con. Con nhiều lần đặt tay trên sách thánh để thề hứa nói sự thật.

Sự mầu nhiệm và bí mật của sự khôn ngoan của Chúa tự nó xuất hiện. Yêu sự thật làm cho ta trẻ, dễ thương mãi trước mặt Chúa. Chúa chỉ nói sự thật cho kẻ đơn sơ bé nhỏ biết, mà không cho kẻ tự cho mình khôn ngoan học thức ở đời biết được.

Câu 8: “Xin dùng cành hương thảo rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền; xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết.”.

Đavít nhắc lại nghi thức Môsê, lấy cành hương thảo vẩy máu bò trên người phung hủi, sau đó họ đi tắm từ đầu đến chân bằng nước sạch (x. Lv 14,1tt). Tôi làm dơ thân xác, làm bẩn tâm hồn. Hương thảo là loại cỏ, dáng xấu nhưng rất cứng, rễ bám vào đá và lên rất mạnh. Thế giới cần được vẩy máu phủ lên thật nhiều. Isaia đã tiên báo Chúa Giêsu là “vị vẩy máu lên nhiều dân tộc” (x. Is 52,15). Qua hình ảnh Đavít dùng, không những nhắc lại nghi thức Cựu ước mà còn tiên báo hai phép rửa lớn lao: rửa tội và giải tội. Người vẩy máu là Chúa Cứu Thế. Thập giá, là bàn thờ hiến tế, thô, xấu như cành hương thảo: nhưng nó uy hùng nhờ thấm đẫm máu Chúa, để qua thánh giá máu Chúa tuôn dồi dào trên xác hồn, tẩy sạch tín hữu qua hai bí tích rửa tội, giải tội cứu rỗi và giao hòa, ơn cao cả Chúa đổ xuống dân gian. Nhờ đó mà trần tục sa ngã được luyện sạch, đứng dậy trong sự trắng ngời hơn tuyết.

Xin Chúa rửa tôi khỏi ba vết nhơ của tự ái là: bám chặt ý muốn cá nhân, ham hoạt động theo sở thích riêng; bám lấy uy tín cá nhân và rất sợ bị khinh bỉ; bám lấy nếp sống nhàn nhã, sợ khó, ham khoái lạc!

Tôi cũng liên tưởng đến việc rảy nước thánh trước thánh lễ mỗi Chúa Nhật, người ta thiếu ý thức; cần giải thích để giáo dân hiểu ý nghĩa và mộ mến nghi thức nầy theo ý nghĩa sau đây: “Đức Kitô, linh mục thượng phẩm, đã chuộc tội ta với máu của Ngài khi Ngài bước vào thánh cung” (x. Hr 9,11-12).

THỨ NĂM 28/11-12 – NGÀY THỨ BA

Câu 9: “Xin cho con được nghe tiếng reo mừng hoan hỷ, để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng.”

Lý do vui mừng là vì đã được Chúa công bố tha tội. Ra khỏi tòa giải tội, đặc biệt khi tĩnh tâm hay dịp lễ trọng, lòng ta khấp khởi vui mừng. Trí phấn khởi, lòng an vui, khiến cho thân xác mỏi mệt được nhanh nhẹn lên hơn. Nơi khác Kinh thánh còn diễn tả cách linh động hơn: “tim ngươi bỡ ngỡ đến vỡ ra” (x. Is 60,5); nơi khác: “Lòng mừng vui làm hân hoan nét mặt” (Cn 15,13).

Niềm vui thiêng liêng đặc biệt của hồn lành thánh làm cho họ có vẻ rất đẹp và hấp dẫn. Tuy Chúa để chúng ta trong cảnh lo ngại cho sự cứu rỗi đời đời của ta, nhưng ngược lại Ngài đã cho chúng ta bao nhiêu dấu hiệu bảo đảm khiến lòng ta phấn khởi vui mừng vì:

“Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa” (Rm 8,16). Biết mình là con Chúa không quan trọng lắm sao? Dù không nghĩ tới, ta đã được bảo đảm là con Chúa, đó là nguồn vui, là lý do để ta sùng kính cách chân chính, tức phục vụ Chúa cách tận tình trong tình yêu Chúa cách hoàn hảo. Điểm chính: là mau mắn quyết định cách hữu hiệu. Quyết định cách dễ dàng, tức cách mau mắn, vui tươi, dịu dàng, thân mến: đây là điểm phụ nhưng không kém phần quan trọng. Nghĩ đến tình Chúa yêu ta, và nghĩ lại phận khốn hèn của mình làm cho ta vừa vui vừa buồn. Tuy buồn nhưng nhẹ nhàng: và trở thành mối kích thích ta sống đời tông đồ lý tưởng cao thượng, tức chỉ muốn làm cho mọi người biết, yêu mến, phục vụ một Chúa Kitô, và cố diệt tội lỗi ra khỏi thế gian.

Trước mắt tôi xuất hiện một hình ảnh của sự thánh thiện, mỉm cười giữa khổ giá, buồn thảm. Tựa nơi lời Chúa dạy và hứa hẹn, tâm hồn ta yên tĩnh và bên ngoài bộc lộ sự bình thản bất khuất nơi gương mặt, lời nói hành vi, đó là một thứ bác ái chinh phục. Xác hồn có liên quan chặt chẽ: “hồn an tịnh làm cho xác khỏe mạnh” (Cn 16,24). Sống an bình với Chúa, làm chứng rằng ta đã được Chúa tha tội, đến lượt mình, ta cũng tha thứ cho anh em, đó chính là chất mỡ, như thánh vịnh 62,6 đã nói, và làm cho ta luôn hân hoan hát lời Magnificat.

Câu 10: “Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi và xoá bỏ hết mọi lỗi lầm.”

Đavít sám hối thật lòng, không những vì tội tày trời khiến ông tạo ra kinh Miserere, mà còn hối tiếc tất cả mọi xúc phạm khác. Thật là xúc động khi nhắc tới khía cạnh đặc biệt khác của gương mặt Chúa đang bất bình và nổi giận. Gương mặt đó sẽ làm cho người ta kinh tâm phá đảm ở ngày thế mạt

Câu này tôi sẽ năng dùng để sám hối. Thật ra, khi trình bày lắm lúc phải nói qua đi, tùy theo tâm trạng người đang thật lòng thống hối, để nói lên lòng tin tưởng của mình ở lượng Chúa khoan hồng, như Đavít sẽ nói sau: “Chúa không chê bỏ kẻ có lòng khiêm nhường sám hối”.

Câu 11: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.”

Cần có tư tưởng đổi mới với một ý muốn trong trắng. Vì qua ý muốn, chúng ta có nhiều đam mê, dục vọng, đặc biệt về tình cảm đối với con người và sự vật. Những cuộc gặp gỡ bất ngờ ở một nơi quá thuận tiện như Đavít đối với vợ của Uria đã gây cuộc thử thách quá nặng nề, vì trong tình cảnh đó khó mà làm chủ được con tim. Khi mà dục vọng đã làm suy yếu ý chí trước sự quyến rũ, người ta dễ chạy theo thần tượng mới của lòng mình.

Do đó phải tạo một tư tưởng mới một ý chí trong trắng như Phaolô, như Augustinô; chỉ vá víu, tô đắp sửa chữa sơ sài, sẽ không dùng được lâu. Nhờ ơn Chúa đã nắn đúc lại, không còn sứt mẻ, nên tấm lòng của họ, cho tới giờ chót vẫn còn vang tiếng thanh tao như đồng vàng nguyên chất.

Trí phán đoán ngay thẳng, tức cần phải đào tạo tư tưởng, để lý trí phân định tầm quan trọng trong lãnh vực tư tưởng và hành động. Được nhận định đúng đắn hơn những nguyên tắc hướng dẫn hành vi và sự hiểu biết cân xứng với việc mỗi người phải thực hiện. Việc cải tạo nầy phải bắt đầu tự thâm tâm, để rồi đi đến những cải tiến bên ngoài trong cuộc sống tức là, trong cách nói, cách nhìn, cách nghe, cách viết; một nghệ thuật sống mới đáp ứng với quan niệm mới về đời sống.

Câu 12: “Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.”.

Đavít đã ra hình phạt nặng nhất cho Absalon, đứa con phản ngụy, vua phán: “Ngươi đừng thấy mặt ta nữa” (x. 2Sm 15,14) – Đó là lý do để ta hiểu câu ngài van Chúa như trên – Chúa không nhìn đến tội là khác, còn quay mặt đi không nhìn kẻ có tội nữa là việc khác. Mầu nhiệm về nhan thánh Chúa ở đây vừa đánh động vừa kinh hoàng! Nhờ đó ta hiểu phần nào về sự hưởng nhan thánh Chúa trên thiên đàng! Xin làm ơn đừng kể con vào hạng bị kết án. Xin thương xót nhận con vào hàng kẻ hưởng nhan thánh Chúa đời đời, dù con phải vào hạng rốt nhất ở đó.

Phần hai nói về Thánh Thần Chúa trong tâm hồn. Vì Thánh Thần của Chúa Cha tức là Ngôi Ba, điều đó quá rõ, dĩ nhiên bút nào tả xiết! Ơn Chúa hành động trong ta, qua câu Tin mừng được diễn tả như sau: “Cha Thầy và Thầy sẽ và ở lại với người ấy” (Ga 14,23). Đây là Ba Ngôi, mỗi Ngôi đều có sự sinh hoạt riêng trong tâm hồn ta. Thánh Thần là Thiên Chúa làm cho ta sống, là Đấng thánh hóa ta. Hồn ta là đền thờ của Ngôi Ba. Thánh Thần mà ở trong ta, ơn phúc dồi dào biết mấy! Thánh Phaolô xếp thành 24 loại ơn, bắt đầu bằng ơn bình an, vui vẻ (x. Gl 5,22).

THỨ SÁU 29/11/1940 – TĨNH TÂM NGÀY THỨ TƯ

Câu 13: “Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con.”

Được bảo đảm về phần rỗi, nỗi vui mừng được Chúa Giêsu, như Thánh Giêrôme đã thay tên Giêsu vào chữ phần rỗi. Ơn thứ nhất của Thánh Thần, là ta được vui thật khi biết mình đã được tha tội; vui vì được kể vào hàng kẻ được tuyển chọn. Vui nhưng lo, lo sợ vì ơn quí báu đó lại đựng trong bình mỏng dòn là hồn ta; rủi vấp là ta ngã, mà ngã là bình vỡ. Chúng ta khốn cùng thật! Tuy nhiên, nếu ta hết sức cố gắng, Chúa sẽ tiếp tục ban ơn, một ơn dịu dàng bởi cảm thấy mình mãi mãi là của Chúa, thưởng thức phần nào cái phúc vĩnh cửu dành cho ta trong ngày bất tận. Đavít hát lên khúc đau thương của mình cho Cựu và Tân Ước, do đó khi nhờ Giêsu là đấng cứu độ của mình, lòng ta được vui vẻ suốt ngày. Tín hữu lúc sơ khai đã diễn tả tư tưởng nầy qua hình con CÁ “ICHTUS (Jesus Christus hominum totius universi salvator) Giêsu Kitô đấng cứu độ mọi người, hình CÁ được tạc trên mộ, vừa nói lên niềm tin của sự sống lại, và niềm tin nơi mầu nhiệm Thánh Thể mà tín hữu thuở đầu chỉ biết có thế. Là linh mục và là giám mục, dịu dàng biết mấy khi hằng ngày thực hiện bí tích Thánh Thể “bảo đảm cho sự vinh quang mai sau”. Tinh thần “hướng thượng” là điều kiện cốt yếu để giữ lòng ta vui vẻ tin tưởng ở sự cứu rỗi. Tinh thần hướng thượng là một đặc ân liên tục đưa tâm lý ta hướng về sự thiện một cách quyết liệt như các vị thánh ở trên trời, đó là đặc ân Chúa ban mà người lành không ngờ mình có, do đó lòng họ vẫn còn mối lo sợ, nhưng là thứ lo sợ của kẻ khôn ngoan, nhờ đó mà họ có thêm nhiều đức khác như: luôn giữ lòng trong trắng, thức tỉnh, khiêm nhường, hằng kêu cầu Chúa v.v…

Đavít xin ơn nầy và gọi đó là tinh thần “hướng thượng” không phải tầm thường, vì nó cao thượng, vô vị lợi, vị tha, chỉ biết có Chúa và sự sáng danh Ngài. Thánh Phaolô cũng xin ơn nầy, và ngài hãm mình phạt xác “kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” (1Cr 9,27). Cùng với vua Đavít và Thánh Phaolô, con cũng xin ơn nầy, tuy còn hèn kém thua xa hai vị; con xin ơn cao cả nầy để nhận ra con là hèn mọn, hư không, chỉ mong muốn một mình Chúa; vì Chúa đã hy sinh tính mạng cho con, nên con chỉ muốn sống vì một Chúa thôi (2Cr 5,15).

Câu 14: “đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi, ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài.”

Đời linh mục không những để dâng lễ đền tội tôi vì nhân gian, mà còn hoạt động cho chân lý và bác ái. Đó là ơn Chúa gọi tôi. Đang khi tôi làm việc quá ít mà Chúa tha thứ cho tôi quá nhiều, khiến tôi càng quyết liệt sốt sắng hơn.

“Tất cả đường lối CHÚA đều là yêu thương và thành tín” (Tv 24,10). Tôi phải sáng chói về hai điểm đó, hơn là xuất sắc về chính trị, mưu mô, thông minh theo lối đời, vì đã có lắm bậc thầy ở môi trường đó rồi. Hoạt động cho sự thật và tình thương đáng công lắm, vì “tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên” (Tv 84,11). Khi giảng dạy “hành động đi đôi với lới nói”, miệng tôi nói nguyên tắc, đời sống của tôi phải nêu gương cho mọi người, trong cũng như ngoài Công Giáo, Hồi Giáo, Do Thái, Chính Thống Giáo. Vì “lời nói lung lay, gương bày lôi cuốn”.

Vấn đề đem người gian ác, lạc lõng trở về là mối lo âu của tâm trí tôi. Dĩ nhiên họ quay về hay không là mầu nhiệm của Chúa, không thuộc quyền của tôi. Phần tôi, phần các linh mục và tín hữu, có trọng trách đưa thế giới vô đạo trở về, cho kẻ lạc đạo, rối đạo về hiệp nhất với Giáo hội, chấp nhận Chúa Kitô. Kết quả không thuộc quyền của ta. Chỉ an lòng, vì biết Giêsu Cứu Thế lo lắng cứu rỗi các linh hồn hơn ta nhiều, tuy muốn ta cộng tác bên ngoài, nhưng chính ơn Chúa cải tạo họ bên trong, và khi cần, ơn Chúa sẽ không thiếu. Đó là giây phút gây niềm vui bất ngờ cho thần thánh trên trời.

Câu 15: “Lạy Thiên Chúa con thờ là Thiên Chúa cứu độ, xin tha chết cho con, con sẽ tung hô Ngài công chính.”

Bản Phổ thông là: “Xin cứu con khỏi dòng máu xấu”. Đavít xin Chúa cho mình khỏi vướng máu gì? Theo thiển ý tôi, đó là:

1. Máu Evà, máu xấu đã lưu thông trong nhân loại sau tội nguyên tổ, gây ra sự dâm ô. Thật ra, khi đến tuổi già lục tuần như tôi, phải thành thật nhìn nhận rằng bầu máu nóng của tuổi trẻ nó lắng dịu khi đã già. Tuy nhiên, phải cẩn thận, vì trong Kinh thánh có lắm truyện của “già mà dại” (Hc 25,2) đó là một trong “ba điều” mà tôi rất ghê sợ.

2. Máu gia đình. Quyến luyến với gia đình, quá luật bác ái, gây trở ngại kéo dài. Vì luật tông đồ và linh mục vượt luật “thể xác và họ máu”. Yêu cha mẹ, bà con; cứu giúp họ trong cảnh nghèo truyền kiếp, y như cứu giúp bất cứ mọi kẻ nghèo khác cách kín đáo, theo tinh thần linh mục, đúng phép công bình và không thiên vị. Cha mẹ, anh chị và các cháu của tôi vẫn sống gương mẫu, thật là an ủi cho tôi. Nhưng không nên quá lo về việc làm và khó khăn của họ mà gây cản trở, chia trí trong phận vụ giám mục là người tôi tớ của tòa thánh.

3. Máu nòi giống. Yêu tổ quốc là hợp lý và lành thánh, nhưng đừng vì yêu quê hương mà gây trở ngại cho chức vị giám mục của tôi. Giám mục phải đứng trên các mọi tranh chấp giữa các quốc gia. Tinh thần quốc gia quá khích, đi ngược Tin mừng đang làm nhiễm độc các nước trên thế giới. Đây là vấn đề thời sự nóng bỏng, xin Chúa, “cứu con khỏi máu nóng này”. Chúa Giêsu đã chết cho các dân tộc, không phân biệt màu da, dòng máu, để nên người anh cả của một đại gia đình nhân loại mới, xây dựng trên nền tảng của Tin mừng.

Khi vượt mọi ràng buộc thế tục, linh mục, giám mục sẽ rất tự do, hăng say rao giảng luật Chúa, ca tụng công lý, hòa bình và tình thương của Chúa Cha là “Chúa của mọi nhân đức”, của Chúa Con là “Chúa của sự cứu rỗi”, và của Thánh Thần là “Chúa bình an”! Được tự do không nặng tình quê hương sẽ làm cho chức vụ linh mục vui vẻ biết bao! “Thánh chỉ Ngài là khúc nhạc của con, giữa cảnh đời tha hương lữ thứ” (Tv 118,54). “Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa, tung hô Ngài là Núi Đá độ trì ta” (Tv 94,1).

Câu 16: “Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.”

Đây là câu thánh vịnh mà tôi thích nhất. Kinh mai của linh mục mở đầu bằng câu này, thật nên thơ và rất dịu dàng cho tâm hồn. Linh mục là bậc thầy, và miệng ngài là cửa của khoa học. “Lạy Chúa xin mở miệng con” sẽ là câu kinh trước khi giảng, thuyết trình hay việc gì có hình thức là dạy dỗ. Nhật tụng suốt ngày thảy đều bằng câu nầy. Đó là câu bắt đầu cho mọi công cuộc rao giảng lời Chúa, đem Tin Mừng, ca tụng chân lý Công giáo, chúc tụng Danh Chúa.

Đến đây Cha Segneri bỗng lên octave trên vượt cung trầm của Đavít, để ca tụng Giáo hội, kỳ công lớn nhất mà Chúa đã xây dựng để làm khí cụ ban bố ân huệ của Chúa, xảy ra mười thế kỷ sau Đavít. Thật ra thánh vịnh Đavít 47,1 có câu: “Chúa cao cả, đáng chúc tụng vô biên”. Nhưng chúc tụng Chúa ở nơi nào: trên trời, dưới đất, trên vì sao, mặt trời hay vũ trụ bao la? Không phải – Thánh vịnh 47,2 tiếp: “trong thành thánh, trên núi thánh của Chúa”. Thánh Bellarminô cũng đồng ý, khi viết: “Xây dựng Hội thánh, đó là một mạc khải cao cả nhất, không gì cho ta thấy sự cao cả để chúc tụng Chúa hơn”. Cha Segneri cho rằng đủ lẽ mà kết luận Đavít ca tụng Hội thánh ngày nay qua thánh vịnh của ngài. “Miệng tôi sẽ cao rao lời khen ngợi Chúa”. Có thể nói Đavít lấy làm vinh dự báo tin việc thiết lập Hội thánh.

Câu thánh vịnh nầy mỗi ngày do hàng triệu môi miệng nói lên, và mỗi lúc càng nhiều người nói, khiến cho lời tiên tri Đavít mỗi ngày càng thêm sáng tỏ và mở rộng ý nghĩa thầm kín của nó. Giáo hội, qua lời nầy, như tự tiên báo mình là một thể chế sống động, không như một lâu đài cổ. Hội thánh không phải là tòa nhà xây trong một năm, nhưng là một đô thành ngày càng nới rộng đủ sức chứa đựng cả một thế giới. “Núi thánh Người thật nguy nga hùng vĩ, là niềm vui cho toàn thể địa cầu. Núi Xi-on, bồng lai cực bắc, là kinh thành của Đức Đại Vương” (Tv 47,3). Nền móng đã được xây từ hai thế kỷ, vẫn còn tiếp tục cho tới ngày nó bao gồm cả vũ trụ, đến ngày mà danh Giêsu được khắp nơi tôn thờ. Đế đô mở rộng đến đâu là những dân tộc mới rất vui mừng vì nghe đến danh Giêsu đến đó. “Các dân tộc sung sướng nghe báo Tin mừng” (x. Cv 13,48). Cha Segneri có tư tưởng sau đây vừa táo bạo vừa đạo đức và gây hứng khởi cho mọi linh mục khi đọc Nhật tụng là: mỗi người dấn thân vào việc xây dựng Hội thánh. Đây, các vị thừa sai đang dấn thân rao giảng lời Chúa, như sứ giả mang tin mừng cứu độ, họ xin: “Lạy Chúa, xin mở môi con, và miệng con sẽ cao rao lời ngợi khen Chúa”. Dù không phải thừa sai, những ai phải đọc lời nguyện nầy cũng phải nhận miệng lưỡi của những ai giảng Tin mừng, vẫn là của mình, do đức ái đã kết hợp tất cả chúng ta lại với nhau; và đừng quên “Tin mừng là lời ca tụng Chúa đẹp đẽ nhất, mỗi lời trong đó là một mầu nhiệm”.

LỄ THÁNH ANRÊ 30/11/1940 – TĨNH TÂM ĐẾN NGÀY THỨ NĂM

Câu 17: “Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm, con có thượng tiến lễ toàn thiêu, Ngài cũng không chấp nhận.”

Đavít đã hiểu rõ, tuy muộn đến một năm sau, về tội trầm trọng của ông: hiếp vợ, giết chồng mà đoạt vợ. Tội của ông, theo luật Môsê là tử hình. Nhưng Nathan bảo đảm: “Chúa đã bỏ qua tội của ngài; ngài sẽ không phải chết” (2Sm 12,13). Đavít đã hiểu, cần một sự đền tạ cân xứng. Ông đã quá giàu sang, bao nhiêu của lễ trần gian cũng sẽ không thấm vào đâu. Vả lại ông là nội tổ của Đấng Cứu Thế sau nầy, ông không thể đền tội theo hạng dân đen như Môsê dạy. Do đó, ông hiểu và sẵn sàng chấp nhận mọi thứ hy sinh, và đó cũng là lời cảnh cáo và khuyến dạy tôi phải mau mắn sẵn sàng hy sinh vì Chúa trong việc nhỏ cũng như việc lớn. Vài giọt nước mắt khi sám hối chẳng đáng chi, chính ý chí hy sinh phục vụ Chúa mới đáng kể. “Chúa ơi, lòng con đang sẵn sàng” (x. Tv 56,8). Nhiều kẻ lầm tưởng, đặt kế hoạch hy sinh theo ý riêng, theo sự đam mê, theo tham vọng, theo sự bất nhất của mình, mà tưởng đó là ý Chúa. “Ngươi ở tận vực thẳm, sự đam mê của lòng ngươi đã lừa dối ngươi”. Như ếch ngồi đáy giếng, ngươi lại có tham vọng muốn bay cao như phượng hoàng. Vậy, phải cụ thể bằng việc làm, nhờ ơn Chúa ngươi sẽ biết mình, sẽ bỏ ý riêng mà tuân ý Chúa trong việc lớn việc nhỏ thường ngày, chứ không phải ý Chúa ở hồi ngươi cao hứng bồng bột sốt sắng.

Câu 18: “Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê.”.

Vì linh hồn đồng ý để thể xác phạm lỗi, nên phải chịu đau trên thể xác, khổ trong tâm hồn để đền tội. Ngoài Đavít là kẻ phạm tội, đây cũng là bài học về thánh giá và đau khổ, lối bảo đảm trọn lành cho linh mục và giám mục.

Năm 1930, khi tĩnh tâm tại Rusciuk tôi đã suy nghĩ nhiều về giáo thuyết này. Đặc biệt khi thụ phong giám mục, lúc sấp mình (trước bàn thờ Thánh Carôlô ở Rôma) và sau đó khi đứng dậy, tôi cảm thấy mình phần nào giống Chúa chịu đóng đinh hơn. “Xin cho con say mê thánh giá”. Tôi muốn năng lặp lại câu này. Xưa nay tôi chưa khổ mấy. Ơn Chúa ban cho tôi tâm tính vui vẻ an nhàn, không được như các vị can đảm mạo hiểm lăn xả vào các đại cuộc. Nhưng khi đời gần tàn, Chúa lại bắt tôi trải qua các loại thử thách nặng nề. Con sẵn sàng, chỉ xin một điều là Chúa gửi thử thách, cũng xin giữ ơn để con gánh vác cách bình tĩnh, dịu dàng, xứng đáng. Tôi vừa đọc hạnh tích bà Marie Alphonse, vị sáng lập Dòng Sion mà tôi đang tạm trú, tinh thần của Bà và dòng là “vui tươi phó thác”. Tôi thích lối này, là âm thầm hy sinh, khiêm nhường sám hối chịu đựng “lòng tan nát như tro” mà các vị thánh đơn sơ của Cựu và Tân ước đều trải qua. Điển hình Thánh Phanxicô khó khăn đã cầu xin: “Xin Giêsu thương xót con là kẻ có tội”. Khi dâng lễ kỹ càng và sốt sắng tự nhiên lòng tôi “tan nát” như Chúa ở vườn Cây Dầu, và sau đó trong ngày biết bao cảnh nát lòng khi tôi phải sống dung hòa giữa cái dịu dàng, nhẫn nại, chịu đựng, nhưng lại công bình, xứng đáng và bình tĩnh.

Câu 19: “Xin rộng lòng tuôn đổ hồng phúc xuống Sion, thành luỹ Giêrusalem, xin Ngài xây dựng lại.”

Đavít tội lỗi, sau khi ăn năn, đã tin tưởng hướng về tương lai xán lạn của Chúa, ngài sẵn sàng hy sinh để dòng họ ngài, sau nầy sinh trưởng Đấng Cứu Thế, được vững chắc “biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Chúa đối với nhân loại” (Tt 3,4). Sự thật dòng Đavít đã và đang tồn tại, qua hoàng đế Constantiô và qua giáo hoàng Rôma. Giêrusalem đã lan rộng khắp hoàn cầu với một thành trì rất kiên cố trong một đức tin, một tâm hồn. Thỉnh thoảng đó đây có sứt mẻ nhưng cũng chóng xây đắp lại và càng vững chắc hơn. Giêrusalem lan rộng đến trời, nơi anh em đi trước đang chờ ta ở ngày thế mạt vinh quang. Những câu cuối cùng của Miserere tương tự các trang Khải huyền của Gioan, cả hai diễn tả “cái bình an hạnh phúc” và hoàn tất với ngày “Chúa Kitô đến” (x. Kh 22,20).

Hồn tôi bỡ ngỡ, cảm động trước cái huy hoàng, khích lệ tôi nỗ lực xây dựng Giêrusalem là Giáo hội ngày càng vững mạnh với bất cứ trách vụ nào mà Chúa Quan phòng giao phó: Làm giám mục hạng chót, làm khâm sứ hạng cuối cùng, tôi vẫn làm tròn sứ mệnh không phai lòng.

Những năm cuối cùng đời tôi, là những năm đẹp nhất để thật sự cộng tác cách hữu hiệu, đứng đắn trong công cuộc lớn lao của Giáo hội. Xin Chúa Giêsu vui lòng chấp nhận và chúc lành cho điều con dốc quyết “theo lòng nhân hậu của Chúa”.

Câu 20: “Bấy giờ Ngài vui nhận tế phẩm luật truyền, lễ vật toàn thiêu, lễ vật hiến tế. Bấy giờ thiên hạ giết bò tơ dâng trên bàn thờ Chúa.”

Của hiến tế đấng Đavít tiên báo về Chúa Kitô “đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa” (Ep 5,2).

Đavít được thấy xa xa mà lòng đã phấn khởi. Ông thấy trước cuộc hiến tế đem lại công lý và sự tha thứ cho muôn dân, cuộc hiến tế trên đồi Calvê, sẽ diễn lại trên khắp các bàn thờ thế giới; và diễn lại trên hàng triệu triệu cá nhân vì hiểu mà yêu thích thánh giá, đã, đang và sẽ chấp nhận mọi thứ hy sinh, gian khổ trong Nhiệm Thể Chúa Kitô.

Đây, các thánh tông đồ, hiển tu, tử đạo, đồng trinh mọi nơi, mọi thế hệ đã chấp nhận sự hiến thân, và nếu cần, thí cả mạng sống. Đó là mối vinh quang cho Giáo hội, và “Chúa đã đón nhận họ như của lễ toàn thiêu” (Kn 3,6). Bao nhiêu hy sinh lễ tế thầm kín, đời làm sao biết hết được, đã, đang và sẽ diễn ra trên khắp mặt địa cầu. Và bò tơ có ý chỉ Giêsu hiến tế trong Thánh Thể, để kéo dài cuộc tế lễ đồi Calvê. Vinh dự thay, mà cũng là trách nhiệm nặng nề đối với đất trời cho linh mục và giám mục khi được dâng lễ hằng ngày.

Con xin hạ mình sâu thẳm, xin thương tha mọi hư hèn, con xin dâng lại đời con để tôn thờ và yêu mến nơi bàn thờ Chúa. “Xin Chúa thương xót con”.

1942: TĨNH TÂM VỚI CÁC LINH MỤC TẠI TÒA KHÂM SỨ

TỪ 25-31/10/1942 – LỄ KITÔ VUA ĐẾN LỄ CHƯ THÁNH

1. Năm qua, mất tĩnh tâm, vì bốn lần phải ở lại Hy Lạp, nhân danh Đức Thánh Cha để cứu trợ. Năm nay muốn tĩnh tâm ở dòng Tên như hồi 1939, nhưng các Cha ấy vẫn tiếp tục bị theo dõi và đang bối rối sợ sệt. Tôi đành tĩnh tâm tại nhà như năm 1935 và 1937. Tôi đã mời các ĐGM Kiredjan (Arménien), Varuhas (Bijantin) – ngài lại mang theo ba giáo sĩ: cha Basile, cha Polycarpe và phó tế Haralampor  – , ba giáo trưởng Chami (Melchites), Fakir (Syriens) và Nikoloff (Bulgaires) cũng đến. Các vị đều ở lại dùng cơm tại tòa Khâm sứ, tất cả mười lăm vị tĩnh tâm, con số đẹp.

Cha Folet (Pháp), dòng Tên, giảng rất hay và thành công vì hoàn toàn dựa trên Thánh Kinh. Giờ giấc được giữ đúng, thinh lặng hoàn toàn. Mọi người đều sốt sắng và nêu gương cho nhau, đẹp quá!

2. Ngày lễ hai Thánh Tông đồ Simon và Giuđa, tôi đã chuẩn bị xưng tội bằng dâng một thánh lễ, dự thêm một lễ của cha giảng và xưng tội chung hai năm; việc đền tội đọc Miserere và Magnificat. Còn bao nhiêu thứ đền tội mà tôi đã quen giữ; xin cho có tinh thần hãm mình đền tội, noi gương Thánh Carôlô và Hồng y Federico, vào mùa Chay, hai vị đi chân không, dây cột cổ, xiềng mang ngang hông, cầm hào quang có thánh giá thật đi kiệu đền tội với dân.

3. Nỗi ưu tư của tôi từ lâu và còn mãi là: không làm được đúng mức việc phải làm; cần chiến đấu với tính biếng nhác do bản tính thích an nhàn, tương đối chậm chạp dù không bao giờ đứng lại. Nỗi khổ ấy khiến tôi phải nhận mình thấp hèn và phải lo buồn. Cần nắm lấy những gì khiến tôi phải hạ mình và yêu mến nó, nhưng đừng để mất sự bình thản và an bình bên trong. Thật ra có nhiều lý do khiến công việc bị chậm trễ, vì một mình phải di chuyển thường xuyên giữa hai tòa khâm sứ Thổ và Hy Lạp với bao thứ công việc tràn ngập. Tôi cần thành thật nhìn nhận mình thiếu tài, thiếu lực, như sách Gương phúc dạy, nếu không nhìn nhận cách vui vẻ; ít ra phải nhẫn nại hứng chịu. Nơi khác sách nầy cũng dạy: nếu không thành thật nhận mình còn thua mọi người, đó là dấu mình chưa khiêm nhượng thật lòng (Gp III, 23,3).

4. Nhờ ơn Chúa, tôi đã giữ các điểm chính của luật sống. Quên mình, vì tôi là không, “phàm hèn và tội lỗi”. Đúng vậy; phó thác theo ý Chúa; chỉ mong phục vụ Giáo hội phần nào qua phận vụ tông đồ; không lo cho tương lai, chỉ sẵn sàng hy sinh dù phải chết, nếu Chúa cho là đáng để sáng danh Chúa; cố gắng sống đời sốt sắng đạo đức theo lối của Giáo hội và thánh truyền, không muốn tự chế ra một lối sống đặc biệt nào riêng lạ; tỉnh táo, theo sát mọi sự cách ôn hòa, dịu dàng, như lời Cha Gratry, được Hồng y Mercier trích dẫn: “dịu dàng là mức hoàn hảo của sức mạnh”; cuối cùng, năng nhớ sự chết, tư tưởng nầy làm cho tôi sống tự do và vui vẻ.

5. Nhắc lại mãi cũng khó chịu, nhưng cần nhắc lại sự dốc lòng cũ. Là đọc xong Kinh Sách chiều hôm trước. Học tiếng Thổ và tiếng Hy lạp. Tôi đã học Hy Lạp vài tháng và thích lắm; sau đó học lại tiếng Thổ, không phải để tỏ ra mình giỏi văn chương mà vì nhu cầu của phận sự, nêu gương cho người sẽ tiếp nối công việc của tôi.

6. Tôi gặp nhiều khó khăn ở tòa khâm sứ Hy Lạp, nên phải yêu nơi đó nhiều hơn. Tuy nhiên, vài tháng nay cũng có lắm sự an ủi. Bao lâu phải ở Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ) là tôi không bao giờ tìm cách xin rời khỏi nơi đây vì lý do “ bất ổn”. Theo tư tưởng của ĐGM Testa, tôi ở đây như cá ở trong nước, tư tưởng này khiến tôi dễ chịu, được khích lệ, và nhớ đến trách nhiệm, bao lâu Tòa thánh còn muốn tôi ở đây.

7. Hai tai họa đang nhiễm độc xã hội đó là “quốc gia quá khích và tinh thần thế tục”, một bên là tính tự nhiên của kẻ cầm quyền, một bên do giáo sĩ a tòng. Là giám mục và đại diện Tòa thánh, tôi cần tránh bị nhiễm độc. Thâm tâm tôi yêu tổ quốc Ý, nhưng bề ngoài phải dửng dưng. Hội thánh là mẹ của các dân tộc, phải ở trên các dân tộc. Mọi quốc gia phải thấy tôi là đại diện của Hội thánh, có lòng yêu quê hương của họ thật; đoán xét rất tế nhị, lễ độ để thông cảm với mọi người. Phải rất khôn ngoan, thinh lặng cung kính, lễ độ mọi lúc. Nhưng kẻ thuộc quyền tôi cũng phải theo lối này khi ở tòa khâm sứ cũng như khi ra ngoài. Ai lại không mang đôi chút tinh thần quốc gia quá đáng. Khâm sứ phải tỏ ra tuyệt đối không bị lây bệnh ấy. “Xin Chúa giúp con”.

8. Chúng ta đang trải qua thời kỳ có quá nhiều biến cố, và trước mắt là cái hố sâu không bồi đắp được. Ta cần trở về với các nguyên lý đã tạo ra được cái trật tự Kitô giáo, phải theo ánh sáng Tin mừng mà đoán xem mọi sự, và kinh khiếp run sợ nhìn nhận luật nhân quả khi người ta trái luật Chúa. Giám mục sẽ tùy cơ thuận lợi, qua lời nói và hành động, làm sáng tỏ cái triết lý của lịch sử, dù lịch sử ngày nay đang được viết thêm bằng những trang sử máu, hỗn loạn về chính trị xã hội. Tôi sẽ đọc lại tác phẩm “De Civitate Dei”của tiến sĩ Augustinô, nắm vững giáo thuyết của ngài để đối phó với mọi biến cố do phận vụ mà tôi phải đón nhận, để sự khôn ngoan Chúa soi sáng và dẫn dắt tôi.

9. Cha Folet giảng toàn bằng Kinh thánh, chỉ có một lần ngài ra ngoài sách Kinh thánh để diễn tả hình ảnh hoàn hảo của một giám mục. Ngài dùng lời Thánh Isiđôrô ca tụng Thánh giám mục Fulgence. Tôi xin ghi lại nguyên văn để răn mình, và để ghi lại ngày tĩnh tâm quí báu nầy. Ước gì đời tôi họa lại các dòng sau đây:

“Người lãnh đạo và giáo huấn dân, đưa họ đến sự cứu rỗi, phải lành thánh về mọi phương diện, không ai chỉ trích được về điểm nào… Lời nói phải trong sạch, đơn sơ, sáng tỏ, nghiêm nghị và đứng đắn, dịu dàng và có duyên; phải nói về mầu nhiệm của Luật Chúa, giáo thuyết của đức tin, về nhân đức, sự tiết độ, trật tự và công bình. Phải chỉ dẫn trước cho từng người với một lời khuyên bảo thích hợp, tức tùy nghề nghiệp và mức độ luân lý của từng người; phải biết trước mình sẽ nói gì, nói cho ai, lúc nào và cách nào thích hợp. Phận vụ số một là đọc Kinh thánh, xem lại Giáo luật, noi gương các thánh; ăn chay, ngủ ít, cầu nguyện; hòa thuận với đồng nghiệp, sống gần gũi với từng vị; không kết án ai khi chưa đủ bằng cớ; không ra vạ tuyệt thông cho ai khi chưa xét xử. Phải là người số một về mặt khiêm nhường cũng như về uy quyền, tức là đừng vì quá khiêm nhường mà để cho thuộc hạ ngày càng bê bối, nhưng đừng quá hà khắc đến tàn nhẫn, Càng sợ Chúa phán xét bao nhiêu, càng cư xử hết sức dè dặt đối với kẻ thuộc quyền bấy nhiêu.

“Hãy xem đức Ái là trọng vọng trổi hơn các đặc ân, vì thiếu nó các đức khác ra vô ích. Đức Ái giữ lòng thanh khiết, và khiêm nhường là điểm tựa cho đức ấy. Phải dành cho đức thanh khiết chỗ nhất giữa các nhân đức, để tinh thần một khi đã cống hiến cho Chúa Kitô là phải được sạch mọi tì vết về nhục dục. Cần đặc biệt chăm sóc người nghèo, cho kẻ rách rưới ăn mặc, rước khách đỗ nhà, chuộc người bị cầm giữ, bênh vực kẻ góa bụa, mồ côi; tỉnh thức lo lắng mọi việc, cai trị tức tiên liệu, phân phối cho phân minh. Tiếp đón kẻ xin tá túc là điểm quan trọng, tiếp đón tất cả cách dịu dàng trìu mến. Là tín hữu thường đã muốn được nghe Chúa khen: “Các con đã tiếp ta khi ta đến xin tá túc”, phương chi Tòa giám mục là nhà chung cho mọi người”.

1943: GHI CHÚ

Năm 1943 không sao tổ chức tĩnh tâm được, phải dời đến cuối năm 1944. Để chuẩn bị, tôi đã mời Cha Lévêque dòng Vinh Sơn giảng phòng. Nhưng vài hôm trước lễ Giáng sinh tôi đã được lệnh đi làm Đại Sứ ở Paris.

Thánh Gioan XXIII

Bản Việt ngữ của linh mục Trần Văn Thông

[1] Thư ký, sau làm khâm sứ tại đây 1953 – 1959. Sau làm chủ tịch Hàn lâm viện Giáo hoàng

[2] của đức Piô XII, ngày 20/10/1939

[3] 2 lễ trọng của Hồi giáo, lễ thứ I, sau mùa Chay cả, mừng một hôm; lễ thứ 2 mừng 4 hôm, nhắc tích Abraham dâng con là Isaac

[4]  Thánh vịnh 50

From → Công Giáo

Để lại phản hồi

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: